Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh nhà thờ Tiến sĩ Nguyễn Lệnh Tân
Di tích nhà thờ Tiến sĩ Nguyễn Lệnh Tân là nơi lưu giữ truyền thống hiếu học, khoa bảng của dòng họ Nguyễn trên đất Trinh Sơn xưa, gắn với cuộc đời và sự nghiệp của vị tiến sĩ tài năng, chính trực, có nhiều đóng góp cho triều đình và đất nước thế kỷ XVIII.
Ông Nguyễn Lệnh Bưởng, hậu duệ đời thứ 7 của Tiến sĩ Nguyễn Lệnh Tân trước bàn thờ tiên tổ.
Di tích nhà thờ Tiến sĩ Nguyễn Lệnh Tân trước đây là nhà từ đường của dòng họ Nguyễn, tiền thân của dòng họ Nguyễn Lệnh và Nguyễn Dụng ngày nay. Theo phả tộc của họ, cụ thủy tổ là người họ Nguyễn đến đất này lập nghiệp vào đầu thế kỷ thứ 16, khi đó tên làng là ấp Trinh Sơn. Đến đời thứ 6, Cụ Nguyễn Cơ (1699-1747) có đức có tài được triểu đình mời ra làm quan giúp nước, thăng đến chức Thừa chính xứ Tuyên Quang (Tòng tam phấm), Cụ có công lớn đóng góp cho triều đình đất nước, được vua ban tặng hàm "Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu", tước Triệu Trạch hầu, và tên thụy là Hoằng Nghị. Cụ là người khởi đầu đem sự vinh quang, vẻ vang cho gia đình, dòng họ; có công sinh thành dưỡng dục, hướng cho con cái học hành, thành người có tài đức phụng sự đất nước, giúp dân. Kỳ vọng của Cụ đã thành hiện thực là các con thành danh, đã làm cho gia đình dòng họ trở thành nối tiếng trong khu vực (Ba đời kế tiếp, bốn vị làm quan), xứng là "Danh gia vọng tộc" kéo dài hơn một thế kỷ.
Tiến sĩ Nguyễn Lệnh Tân đời thứ 7 (1726-1777), con Cụ Cơ là người kế tiếp viết nên trang phả tộc sáng ngời. Sinh thời được cha mẹ nuôi ăn học, vốn thông minh sáng dạ lại chăm đèn sách bút nghiên, nên đã thông lầu kinh sử khi tuổi còn niên thiếu. Năm 1747 dự định thi Hương nhưng không may cha mất vào đầu năm, phải chịu cư tang cha nên đành gác lại việc thi. Năm 1750 thi Hương lần đầu chỉ đỗ ba vòng đạt giái Sinh đồ loại ưu, năm 1753 thi đỗ Hương cống. Mùa xuân 1754 và các khoa kế tiếp thi Hội nhưng không trúng cách để dự thi đình. Gặp kỳ thi sĩ vọng Cụ thi đỗ và được bổ chức Huấn đạo, chức quan coi việc học ở cấp huyện. Năm 1763 thi đỗ Tiến sĩ. Cuộc đời làm quan của Cụ đã được nhiều sách ghi chép lưu tích, nhất là cuốn quốc sử "Đại Việt sử ký tục Biên", đã thể hiện Cụ từng được bổ cử đảm nhiệm các công việc và giữ các chức: Đô cấp sự trung Hiến sát ty Hải Dương (1764-8/1767); làm Tham mưu việc quân cho Đoan quận công Bùi Thế Đạt (quan Trần thủ Nghệ An) khi dẹp loạn Lê Duy Mật (giai đoạn từ 8/1767-1769), và đã từng được giao chỉ huy một cánh quân tiến công đồn. Sau dẹp loạn về làm ở Viện Hàn lâm (1770- 1774) đã thăng đến chức Thừa chỉ. Đang ở chức trọng quyền cao, Cụ lại xung phong đi dẹp loạn đàng trong và được Chúa ưng thuận cử làm Phó tướng cho Tham tụng Xuân quận công Nguyễn Nghiễm (11/1774-12/1775); khi chiếm được Quảng Ngãi Cụ đã cùng Nguyễn Đình Đống xin lưu giữ ở Châu Ố, Bình Sơn Quảng Ngãi phòng quân Tây Sơn tráo trở, nhưng Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc không nghe. Rút quân về Phú Xuân (12/1775) Cụ được Chúa cử giữ chức Hiệp đồng, Phó Đốc thị đạo Thuận Hóa, Chúa cũng sai Cụ "làm sứ giả đi dụ Nguyễn Nhạc" và giao cho Phạm Ngô Cầu định liệu, Phạm Ngô Cầu đã ngăn Cụ, vì chưa tin Nguyễn Nhạc. Tháng 12/1776 được điều về triều làm ở Nội thần, và không lâu sau đó Chúa đã cử làm khâm sai đi Phú Xuân để điểm duyệt quân số.

Xong việc trở về triều, Chúa cử giữ chức Tham chính Sơn Tây (04-11/1777), và mất ngày 21/10 (âl). Được vua phong chức Hữu thị lang Công bộ (tòng tam phẩm), tặng hàm "Gia hành đại phu", và ban tên thụy Vỹ Đạt. Lúc ở đạo Thuận Hóa Cụ từng nói "Giặc Tây Sơn nên kịp đánh, bị trấn thủ Phạm Ngô Cầu ngăn cản", Cụ đã khải về triều đình với câu nói nối tiếng, vô cùng khảng khái rằng: "Cầu hèn nhát làm lỡ việc, Thuận Quảng tất mất ở tay người ấy. Xin chém đầu đi mà dùng tướng khác, may ra có thế giữ được Thuận Quảng".
Rõ là người túc trí đa mưu, bản lĩnh, chính trực, văn võ song toàn. Nhìn lại quảng đời làm quan của Cụ chúng ta thấy Cụ là người vừa tài văn giỏi võ, làm quan thanh liêm, chính trực, nhân cách, đức cao, tâm sáng; không cầu an, không ngại khó, có tư tưởng tiên phong xả thân vì việc nghĩa, có năng lực chính trị, quân sự, ngoại giao đã được Chúa và triều đình tin tưởng giao nhiều việc trọng. Chỉ làm quan 14 năm (1764-1777) mà thăng từ bát phẩm lên hàng tam phẩm (5 bậc), chứng tỏ Cụ có nhiều công trạng, cống hiến hết mình cho triều đình đất nước. Thật tiếc là Cụ ra đi khi mới 52 tuổi, độ tuổi chi Thiên Mệnh, tài năng đủ chín, kinh nghiệm tích dầy; nếu không Cụ còn có thể cống hiến nhiều hơn cho đất nước, và bản thân cũng có thể đứng vào hàng tam công vinh hiển. Sách "Danh sĩ Thanh Hóa với việc học và khoa cử thời xưa" có viết Cụ giữ chức "Đông Các đại học sĩ", nhưng trong phả tộc và sách "Đại Việt sử ký tục biên" không nói Cụ giữ chức này. Nhà thờ Cụ được công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp tỉnh năm 2006 để vinh danh Cụ, đó cũng là niềm tự hào của con cháu trong họ và làng nước.
Đến với Di tích nhà thờ tiến sĩ Nguyễn Lệnh Tân chúng ta còn được biết: Cụ có em trai tên tự Nguyễn Dụng Hanh (1736-1789) là người có văn hóa hiểu biết xã hội, được tiến cử làm quan, thăng đến chức Thiêm sự viện, được tặng hàm "Hoằng tiến đại phu" (chánh ngũ phẩm), tên thụy là Cung Thận.
Con trai Cụ đời thứ 8, tên tự Nguyễn Lệnh Khuê, tên thụy Tú Phố (1772-1746) giỏi văn chương phú bình, nổi tiếng trong thiên hạ, được triều đình mời ra làm quan, tiến cử giữ chức chép sử ở Hàn Lâm viện, rồi làm tri phủ Hà Trung và thăng đến chức Hộ Tào lang trung (trật chánh tứ phẩm). Cụ có hai chỉ dụ của vua Gia Long cử làm Khâm sai đến xứ Thanh Hoa, Nghệ An dẹp loạn. Vợ cả Cụ là thứ nữ của Tiến sĩ Thượng thư người họ Nguyễn, huyện Thanh Chương, Nghệ An.
Các đời thứ 9,10,11 có 7 người theo gơng tiên tố thi đỗ Tú tài. Rõ là dòng họ rất vinh hiển, thiên hạ biết đến, xã hội trọng vọng, đời đời con cháu tự hào.
(Nguồn từ phả tộc của dòng họ và sách Đại Việt sử ký tục biên).